DANH NHÂN NƯỚC VIỆT: Anh Hùng Nguyễn Trung Trực

Kính thưa quý thính giả, một thủ lãnh phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp vào nửa thế kỷ thứ 19 ở miền Nam VN, nhiều lần chỉ huy đánh quân Pháp trên bộ và trên sông, điển hình là trận phục kích đốt cháy tàu chiến Pháp trên sông Nhật Tảo. Câu nói của ông trước khi bị hành hình vẫn còn được lưu truyền: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”. Qua chuyên mục Danh Nhân Nước Việt tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài “Anh Hùng Nguyễn Trung Trực” của Việt Thái qua giọng đọc của Minh Nguyệt để kết thúc chương trình phát thanh tối hôm nay.

      DLSN24092022bis Danh nhan

Anh Hùng Nguyễn Trung Trực

Việt Thái

Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1838 tại huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay thuộc Bến Lức, tỉnh Long An). Cha là ông Nguyễn Văn Phụng và mẹ là bà Lê Kim Hồng. Ông nội tên là Nguyễn Văn Đạo, nguyên quán ở xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Nhờ tánh thật thà ngay thẳng, Nguyễn Văn Lịch được thầy dạy học đặt hiệu là Trung Trực nên người đời gọi là Nguyễn Trung Trực. Ông là con trưởng trong một gia đình có 8 người con, rất giỏi võ và được mô tả là người can đảm, có nhiều mưu lược.

Tháng 2 năm 1859 Pháp tấn công thành Gia Định, dưới quyền chỉ huy của Trương Công Định, ông chiêu mộ một số nông dân vào lính để giữ đồn Chí Hòa và khi đồn Chí Hòa thất thủ, ông rút quân về Tân An.

Thời gian này Pháp đã chiếm Mỹ Tho, thường cho các tàu chiến tuần tiễu trên sông Nhật Tảo. Một trong số tàu đó là chiếc mang tên Espérance, nằm án ngữ nơi vàm Nhật Tảo, thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Vào rạng sáng ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực cùng Phó quản binh Huỳnh Khắc Nhượng, Nguyễn Học, Võ Văn Quang và Hồ Quang Chiêu phục kích đốt cháy chiếc tàu này.

Do công đốt tàu Pháp, ông được phong chức “Quyền sung Quản đạo”, cùng nghĩa quân tiếp tục chiến đấu tại các địa phận thuộc vùng Gia Định, Biên Hòa.

Khi hòa ước Nhâm Tuất (1862) ký kết, 3 tỉnh miền Đông bị lọt vào tay thực dân Pháp, ông nhận chức Lãnh Binh và đưa quân về hoạt động ở 3 tỉnh miền Tây:

-Đầu năm 1867, ông được phong chức “Hà Tiên thành Thủ úy” trấn giữ vùng đất Hà Tiên, nhưng ông chưa kịp đến nơi thì nơi này đã bị quân Pháp chiếm đóng. Ông liền đưa quân lập mật khu ở Sân Chim và từ nơi này, ông dẫn quân đến Hòn Chông thuộc tỉnh Kiên Giang lập thêm căn cứ kháng chiến.

-Ngày 16/6/1868, ông dẫn quân từ Tà Niên đánh đồn Kiên Giang giết 5 sĩ quan Pháp, 67 quân lính, tịch thu hơn 100 khẩu súng cùng nhiều đạn dược và làm chủ tình hình trong 5 ngày liền.

-Ngày 21/6/1868, Pháp phản công, ông phải rút quân ra đảo Phú Quốc và lập chiến khu tại Cửa Cạn.

-Tháng 9 năm 1868, chiếc tàu Groeland chở Đội Tấn cùng 150 quân bao vây, truy lùng và bắt được ông.

Về sau, giám đốc Sở Nội Vụ Pháp tên Paulin Vial viết rằng: “Nguyễn Trung Trực ra đầu hàng chỉ vì mạng sống của nhiều nghĩa quân và tránh thiệt hại cho dân chúng trên đảo Phú Quốc”.

-Ngày 27/10/1868, nhà cầm quyền Pháp đưa ông về chợ Rạch Giá hành hình. Ông mất ở tuổi 30 tuổi.

Trước khi bị chém, ông yêu cầu được mở trói, không bịt mắt để ông nhìn đồng bào và quê hương trước khi chết. Ông hiên ngang, nhìn bầu trời như nhìn đất nước, từ giã đồng bào và ngâm bài thơ:

Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,

Yêu gian đàm khí hữu long tuyền,

Anh hùng nhược ngộ vô dung địa.

Bảo hận thâm cừu bất đái thiên. 

Được tin ông mất, vua Tự Đức sai Hoàng giáp Lê Khắc Cẩn tổ chức lễ truy điệu và đọc bài điếu văn chính vua ngự ban. Điếu văn như sau:

Giỏi thay người chài,

Mạnh thay quốc sĩ.

Đốt thuyền Nhật Tảo,

Phá lũy Kiên Giang.

Thù nước chưa xong,

Thân sao đã mất!

Hiệu khí xưa nay,

Người nam tử ấy.

Máu đỏ, cát vàng,

Hỡi ơi thôi vậy!

Ngàn năm hương khói,

Trung nghĩa còn đây!

Ngoài ra, vua Tự Đức còn sắc phong cho ông làm “Thượng Đẳng Linh Thần” và lập đền thờ tại làng Vĩnh Thanh Vân, Rạch Giá.

*****

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, anh hùng Nguyễn Trung Trực có 2 chiến công nổi bật, được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi bằng 2 câu thơ:

Hỏa hồng Nht Tảo oanh thiên địa,

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

Mỗi khi nhắc đến tên ông, người dân luôn tỏ ra tôn kính và tự hào vì ông là người xuất thân từ dân chài trở thành vị anh hùng của dân tộc. Ông được dân chúng trong vùng đồng bằng sông Cửu Long lập hơn 20 đền thờ để tưởng nhớ. Tên ông cũng được đặt cho nhiều con đường và trường học.

Năm 1970, dân chúng đã đúc tượng ông bằng đồng, sơn màu đen, đặt trước chợ Rạch Giá. Người dân nhiều tỉnh miền Tây tạc tượng và lập đền thờ ông tại địa phương. Và hằng năm đều tổ chức lễ tưởng niệm trọng thể từ ngày 27 đến 29 tháng 8 âm lịch, nhằm tưởng nhớ đến vị anh hùng có công trong cuộc chiến chống ngoại xâm.

Triều đại nhà Nguyễn tuy bị phê phán khá nặng nề vì thực dân Pháp đô hộ, nhưng ít ra vẫn có nhiều điểm sáng hơn là đảng CSVN hiện nay đã đưa đất nước vào lạc hậu, đạo đức suy đồi và băng hoại, đời sống tự do của người dân bị nhà cầm quyền cướp đoạt. Đây chính là nỗi bất hạnh, là điểm đen tối nhất trong lịch sử dân tộc.

You May Also Like