DANH NHÂN NƯỚC VIỆT: Ngư Phong Nguyễn Quang Bích

Kính thưa quý thính giả, sử Việt thời cận đại ghi, một danh sĩ thuộc dòng dõi họ Ngô ở cuối thế kỷ 19 có ảnh hưởng quan trọng trong phong trào Cần Vương vùng Tây Bắc. Ông là vị thủ lãnh nổi tiếng chống Pháp trong vùng sông Thao – sông Đà. Qua chuyên mục Danh Nhân Nước Việt tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài “Ngư Phong Nguyễn Quang Bích” của Việt Thái qua giọng đọc của Minh Nguyệt để kết thúc chương trình phát thanh tối hôm nay.

      DLSN28052022bis Danh nhan

Ngư Phong Nguyễn Quang Bích

Việt Thái

Nguyễn Quang Bích tự là Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, sinh ngày 7/5/1832. Quê ông ở làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định, nay là làng Trình Nhất, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Nguyễn Quang Bích vốn họ Ngô, thuộc dòng dõi đức Ngô Quyền và Ngô Từ, khai quốc công thần nhà Hậu Lê. Vì dòng họ ông di cư về vùng Thái Bình, cụ nội đổi sang họ ngoại là họ Nguyễn để tri ân công ơn dưỡng dục nên ông đổi họ.

Ông lấy hiệu Ngư Phong để nhớ về quê cũ. Ngư Phong là gò Chài ở cửa biển, nơi mà người dân chài thường nghỉ chân và phơi lưới khi về đất liền.

Thưở nhỏ Nguyễn Quang Bích nổi tiếng thông minh và học giỏi nhất trong vùng, ông là học trò của tiến sĩ Doãn Khuê. Năm 1858, ông đỗ Tú tài. Năm 1861, đỗ Cử nhân được bổ làm Giáo thụ phủ Trường Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Năm 1869, ông đỗ Hoàng Giáp, được cử làm Tri phủ Lâm Thao (Phú Thọ ngày nay). Sau đó ông làm Tri phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

Trong buổi lễ nhậm chức, ông không xin ân huệ mà chỉ dâng chiếu nguyện làm chim ưng để trừ loài quạ đen (ám chỉ quân Pháp). Trong chiếu, ông trình kế sách dùng người và tư tưởng “trọng dân” chứ không chỉ là “thân dân” hay “thương dân”.

Ông giữ qua các chức vụ: Án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử Giám Huế, Án sát Bình Định. Năm 1876, ông kiêm thêm chức Tuần phủ Hưng Hóa, thuộc vùng Phú Thọ, Yên Bái ngày nay.

Ông là người cương quyết chống lại đường lối thỏa hiệp với thực dân Pháp (tức Hiệp ước Quý Mùi 25/8/1883) của triều nhà Nguyễn.

Năm 1883 thực dân Pháp tấn công Hưng Hóa, ông chỉ huy binh lính giữ thành. Quân ít thế cô, ông liều chết giữ thành nhưng các cận tướng đã khuyên và cùng ông phá vòng vây rút về Tam Nông, Phú Thọ.

Ngày 5/7/1885kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi truyền hịch Cần Vương kêu gọi toàn dân vùng dậy chống Pháp.

Hưởng ứng hịch Cần Vương, ông gia nhập vào nghĩa quân, được phong chức Thượng thư bộ Lễ kiêm Hiệp thống Quân vụ Bắc Kỳ. Ông tập trung lực lượng, lập căn cứ mới tại vùng Nghĩa Lộ vừa trực tiếp chỉ huy, vừa tìm cách phối hợp với các phong trào khác của các tù trưởng như Cầm Hánh, Bố Giáp, Cầm Văn Hoan, Cầm Văn Thanh và nhiều người dân các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Dao, Mông…

Quân của ông ngày càng gia tăng, quân Pháp mấy lần càn quét 2 huyện Văn Bàn và Văn Chấn vào đầu tháng 12/1886, đánh vào Đại Lịch tháng 1/1887, đều bị nghĩa quân của ông phục kích, quân Pháp thiệt hại nặng phải rút lui.

Bị thất bại, thực dân Pháp một mặt dùng quân đội bao vây, một mặt cho tay sai là Bố chánh tỉnh Hưng Hóa và Tri phủ Lâm Thao đến dụ dỗ khuyên đầu hàng, nhưng ông đã cự tuyệt.

Theo nhà nghiên cứu Ngô Quang Nam, không chỉ tỏ thái độ chống Pháp, Nguyễn Quang Bích còn có tài thao lược: “Tài thao lược của ông được thể hiện ở 2 điểm lớn đó là: Thứ nhất, biết dựa vào rừng núi để kháng chiến. Thứ hai thu phục được rất nhiều tướng tài là dân tộc thiểu số bản địa vùng Yên Bái, Sơn La như: Cầm Hánh, Bố Giáp, Cầm Văn Hoan, Cầm Văn Thanh… và thu hút được dân chúng trong vùng ủng hộ phong trào kháng Pháp…”

Không chỉ là một vị tướng, ông còn sáng tác nhiều tác phẩm thơ văn có giá trị, làm phong phú thêm cho kho tàng văn thơ thời cận đại. Những tác phẩm thơ văn của ông thể hiện tấm lòng yêu nước, trọng dân, như: “Ngư Phong thi tập” gồm 112 bài thơ, 3 tác phẩm văn xuôi, nổi tiếng là “Văn sách thi đình” và “Tự tình”.

Năm 1890, ông lâm bệnh nặng và mất tại núi Tôn Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Để tưởng nhớ ông, người dân lập nơi thờ tự tại khu Tiên Động, nay thuộc xã Tiên Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Ngoài ra, tên ông còn được đặt cho nhiều đường phố và trường học.

* * *

Lịch sử VN gần 5 ngàn năm, ghi lại hàng trăm cuộc khởi nghĩa đẫm máu để giành độc lập cho nước nhà, đến các nguyên thủ quốc gia trên thế giới cũng tỏ lòng ngưỡng mộ các vị anh hùng như Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt .v.v.

Thế nhưng, so với một ngàn năm Bắc thuộc, trong 80 năm thực dân Pháp đô hộ VN, hàng hàng lớp lớp anh hùng hào kiệt đã xuất hiện để giành lại chủ quyền đất nước ở khắp 3 miền. Đặc biệt tại miền Trung, một vùng đất cằn cỗi nhất lại sản sinh ra nhiều thủ lãnh nổi tiếng như Đào Doãn Địch, Nguyễn Quang Bích, Mai Xuân Thưởng .v.v.

Các cuộc khởi nghĩa đã gây khốn đốn cho thực dân Pháp suốt mấy chục năm, trước khi đảng CSVN ra đời. Chính vì thế, cho dù đảng CSVN luôn nỗ lực bôi bẩn giai đoạn lịch sử này, nhưng không thể bôi xóa được công lao và chiến tích của những vị anh hùng: Hoàng Hoa Thám, Trương Công Định, Đào Doãn Địch, Mai Xuân Thưởng và Nguyễn Quang Bích. Vì đó là những con dân nước Việt đã chiến đấu chống thực dân Pháp đến hơi thở cuối cùng.

You May Also Like