KÝ ỨC THÁNG TƯ BUỒN: Chiều tàn trên sông Vàm Cỏ (2)

Trong chuyên mục “Ký Ức Tháng Tư Buồn” hôm nay,  chúng tôi xin tiếp tục gởi đến thính giả của đài ĐLSN, trận đánh cuối cùng của Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, trong giờ phút thứ 25 của ngày 30-4-1975, bảo vệ thủy lộ cho người di tản trên sông Saigon. Bài viết mang tên “Chiều tàn trên sông Vàm Cỏ” của Hoàng xuân Bái khóa 13 Sĩ Quan Hải Quân VNCH,  Qua giọng đọc của Lê Giang

      DLSN07042022bis Thang tu buon

Chiều tàn trên sông Vàm Cỏ

Hoàng Xuân Bái

Vào những ngày đầu tháng tư, mặt trận miền Trung đã vỡ, làn sóng người di tản tràn ngập Sài Gòn. Vùng 4 tương đối vẫn còn yên tĩnh. Sài Gòn mất chỉ còn là vấn đề thời gian. Có tin chính phủ sẽ triệt thoái về Vùng 4 để cố thủ. Có tin sắp đảo chánh…vv…

Tầm nhìn của Ðại Bàng
    Ðô Ðốc Cang với tầm nhìn xa của một vị tướng đã thấy rõ vấn đề, phải di tản Hạm Ðội, không thể nào để Hạm Ðội lọt vào tay giặc, dù Chính Phủ có rút về Vùng 4 hay không. Bằng mọi giá Hạm Ðội phải ra khơi vào giờ phút thích hợp nhất. Muốn ra khơi êm đẹp, bảo tồn được Hạm Ðội thì thủy lộ Soài Rạp và Lòng Tào phải tốt. ( Sông Lòng Tào và Soài Rạp là 2 thủy lộ chính từ Sài Gòn ra Vũng Tàu. Sông Lòng Tào rất hẹp,quanh co nhưng khá sâu là thủy trình chính của thương thuyền và chiến hạm, trong khi đó sông Soài Rạp lớn hơn nhưng khá cạn, do đó chỉ sử dụng khi cần thiết.)
Ðô Ðốc Cang liền ra lệnh thành lập ngay Lực Lượng Ðặc nhiệm 99, lấy tàu từ nhũng đơn vị  tinh nhuệ của sông ngòi. Người chỉ huy? Còn ai nữa! Ðánh giặc “tới” nhất trong hải quân ai cũng biết là Huỳnh Duy Thiệp và Lê Hữu Dõng. Ông Thiệp thì đã biệt phái qua làm giám đốc Thương cảng Ðà Nẵng và đang bị kẹt ngoài đó, sống chết chưa biết, chỉ còn lại ông Dõng, tên thật xứng với người !!! Ðô Ðốc Cang nói với chánh văn phòng: “Gọi ngay Ðại Tá Dõng về gặp tôi gấp, nội trong ngày hôm nay.”

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Lực Lượng Ðặc Nhiệm 99 được thành lập. Trong khẩn cấp, các đơn vị sau đây đã được lấy về:
– Giang đoàn 42 ngăn chận
– Giang đoàn 59 tuần thám
– Ðại đội hải kích
– Ðịa phương quân
– Một số giang đĩnh lấy ra từ những giang đoàn Thủy bộ, Xung phong gồm tất cả 62 chiến đĩnh, một mũi xung kích mạnh mẹ nhất của HQVNCH lúc đó.

Nhiệm vụ:
– Lực lượng sẽ là đơn vị hậu vệ nặng để bảo vệ Chính phủ rút về Miền tây khi tình hình xấu.
– Bảo vệ an ninh thủy trình Soài Rạp và Lòng Tào trong trường hợp phải di tản.
– Bảo vệ Bộ Tư Lịnh Hải Quân nếu có đảo chánh
– Nhận lệnh trực tiếp từ Tư Lệnh Hải Quân.

Tầm hoạt động
    – Không giới hạn
– Tùy theo tình hình
Bàn cờ đã đến hồi chung cuộc. Ðô Ðốc Cang còn làm gì hơn được ?? !!! Bảo toàn cho Hạm đội di tản an toàn, cho Hải quân, cho đồng bào vào những ngày bi thảm cuối cùng của cuộc chiến đó là điều cuối cùng mà Ðô Ðốc Cang có thể làm đươc trong tầm tay của mình. Và Ðô Ðốc Cang đã chọn lưỡi kiếm bén nhất, tấm khiêng chắc nhất trao vào tay người đàn em lì lợm, chịu chơi nhất của ông: HQ Ðại tá Lê Hữu Dõng.

Vàm Cỏ máu và lửa

Sau khi Khmer Ðỏ xâm chiếm Cao Miên, Cộng sản Bắc việt kéo quân ào ạt qua biên giới Miên Việt đông như kiến, hung hãn với ý đồ cắt đứt quốc lộ 4,tràn ngập Sài Gòn theo hướng tây nam, khóa chặc thủy lộ Lòng Tào Soài Rạp, bắt sống Hạm đội Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, tịch thu toàn bộ làm chiến lợi phẩm….Kế hoạch chắc ăn như bắp, miếng mồi ngon như miếng mỡ. Nhưng khi kéo quân ào ạt đến bờ Tây sông Vàm Cỏ thì Bắc quân đành phải khựng lại. Tới đây Bắc quân đã đụng ngay một bức trường thành thép và lửa do Ðô Ðốc Cang dựng nên: Tướng trấn ải là Hải quân Ðại tá Lê Hữu Dõng, vị đại tá trẻ và đánh giặc chì nhất của hải quân VNCH. Trong tay Ð/Tá Dõng có hơn 60 giang đĩnh đủ loại thuộc các giang đoàn Xung phong, Thủy bộ Ngăn chận, và một đại đội hải kích đủ sức đốt cháy những tham vọng điên cuồng nhất của địch quân.
Bắc quân đành phải ém quân thật kỷ lại bên bờ tây sông Vàm Cỏ chờ cơ hội vượt sông. Nhưng cơ hội đó không bao giờ tới. Họ đã trể một bước. Trên sông Vàm Cỏ, ngày cũng như đêm, bao giờ cũng có hơn chục chiến đĩnh tuần tiểu tới lui, sóng cuộn cả một vùng sông nước mênh mông.
Bảy ngày đêm trôi qua, Tướng Việt cộng Lê đức Anh như ngồi trên đống lửa, cả 3 công trường 5, 7 và 9 dưới quyền của ông ta đều hoàn toàn bị vô hiệu hoá, không tiến được một buớc, mũi nhọn của mặt giáp công phía Tây Nam đã bị cùng. Ðau thật, mang tiếng là quân đội nhân dân bách chiến bách thắng, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng mà phải bó gối ngồi đây, ho một tiếng lớn cũng không dám. Nhục thật !!! Ðành phải nướng quân thôi. bất kể giá nào. Dù phải đẩy bao nhiêu lính vào tử địa cũng phải làm, mạng người đâu có sá gì so với sự nghiệp của “Bác vá Ðảng”. Bộ tư lệnh Bắc quân quyết định “dụ địch vào trận địa pháo, tiêu diệt gọn các tàu địch, tạo điều kiện vượt sông, giải phóng Sài Gòn vây chặt hạm đội địch vào rọ.”
Vào ngày 16 tháng 4, Ðại tá Dõng đẫn đại bộ phận Lưc Lượng Ðặc Nhiệm 99 đi giải tỏa áp lục địch trên kinh Thủ Thừa. Ông chọn những chiến đĩnh có hỏa lực mạnh nhất, những chiếc còn lại vẫn thay phiên nhau tuần tiểu trên sông Vàm Cỏ. Ðôi hình vẫn như thường lệ. Toán tiền phong gồm những giang đĩnh gọn, nhanh, hỏa lực mạnh. Soái Ðĩnh đi giữa sau đó là những quân vận đĩnh, pháo đĩnh đi đoạn hậu ..v.v… Ðoàn tàu đi thật sát bờ, càng sát càng tốt, kinh nghiệm chiến đấu bao nhiêu năm trên sông dạy cho ông như vậy. Ðoàn giang đĩnh di chuyển đúng đội hình, giữ khoảng cách đều đặn, truyền tin liên lạc tốt như đang diễn tập. Ð/Tá Dõng mĩm cười hài lòng. Ông không biết là ông đang dẫn đoàn tàu đi vào trận địa pháo đang dương sẳn.
Cách Thủ Thừa chừng 5 cây số về hướng Nam, ngay rạch Cần Ðốt, khoảng một đại đội Việt cộng đang tắm sông với nhiệm vụ la lối, đùa giỡn càng lớn càng tốt. Trên bờ trận địa pháo đã hờm sẳn, thuyền ghe trưng dụng của dân đã xong. B40, súng chống chiến xa, đại liên, trung liên đã sẳn sàng.
Trên soái đĩnh, Thượng sĩ Hiếu – cận vệ, một đàn em thân tín nhất của Ð/Tá Dõng, đã theo ông từ thuở ban đầu, thời ông còn Trung úy – đặt ống dòm quan sát bên kia bờ, thấy nước bắn lên tung toé, đầu người lố nhố. Lạ thật, đâu mà nhiều người tắm thế trên một khúc sông không một xóm nhà này. Thôi chết rồi, Việt cộng. Thượng sĩ Hiếu chỉ tay về phía ấy và trình báo với Ð/Tá Dõng: “Ông Thầy, Việt cộng đang tắm.
Ð/Tá Dõng quan sát thật kỹ, sau một giây suy nghĩ, ra lệnh: “Ủi vào tấn công !” Các chiến đĩnh quay mũi về bên kia bờ sông, dàn hàng ngang, dồn tất cả hỏa lực vào địch, súng lớn, súng nhỏ trên các giang đĩnh nhả đạn như mưa. Trong khi ấy, pháo địch bắt đầu rơi lỏm tỏm xuống sông tạo thành những cột nước tung toé. Pháo địch càng lúc càng dày. Vài chiến đĩnh đã bị trúng đạn, quay mũi chạy về bờ đông nơi đó có một Quân vận đĩnh (LCM) đã được cải biến để làm bệnh viện dã chiến như kế hoạch đã vạch. Những chiếc khác vẫn lầm lũi tiến vào bờ vừa đi vừa khạc đạn.. Ðoàn chiến đĩnh càng lúc càng đâm gần bờ 200 thước…100 thước… Pháo và súng địch bắn ra xối xả. Các chiến sĩ giang đoàn không một chút nao núng, vẫn ủi tàu vào vị trí địch. Ðoàn tàu càng tiếng gần, pháo địch càng vô hiệu vì tầm bắn quá ngắn…80 thước…70 thước…50 thước…40 thước. Súng lớn súng nhỏ vẫn nổ vang trời. Bắc quân vẫn lì lợm chống trả, không tháo chạy. Ð/Tá Dõng ra một đường gươm thật hiểm: Hai chiếc phóng hỏa đĩnh nhào đến, phóng 2 luồng lửa kinh khiếp, độ nóng thép cũng phải chảy, đừng nói chi đến da thịt con người.
Bắc quân tháo chạy. Chiến trường từ từ dịu lại rồi im bặt. Ð/Tá Dõng ra lệnh đổ bộ, thu dọn chiến trường. Xác bắc quân nằm la liệt. Vũ khí tịch thu: AK, súng trường nhiều như củi mục, 12 khẩu B40, 2 khẩu 12 ly 8, 4 khẩu 82 ly…Lực Lượng Ðặc nhiệm 99 chỉ có 2 chiến đĩnh bị hư hại nhe và một số nhỏ chiến sĩ bị thương. Trận địa pháo của Bắc quân đã biến thành trận “Tẩu pháo”. Chúng đã ôm đầu máu vất súng mà chạy vì đã không đánh giá đúng hoả lực và tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ giang đoàn trong Lưc Lương Ðặc Nhiệm 99 dưới tài chỉ huy của Hải Quân Ðại Tá Lê Hữu Dõng.
Bắc quân điên tiết sau cuộc thảm bại hôm trước. Họ kéo quân đông hơn đến Rạch Cầu Ðót, hỏa lực cũng mạnh hơn. LLÐN 99 lại đụng địch nặng nề ở đó. Chiếc pháo đĩnh chỉ huy của giang đoàn Ngăn Chận trúng 82 ly không giật trực xạ. Chỉ huy trưởng, Thiếu tá Phạm Ngọc Lộ thuộc khóa 12 và 3 nhân viên bị thương. Nhờ đi sát bờ nên chiến đĩnh đã kịp thời ủi bãi, không chìm dù tàu bị thủng lỗ. Ð/Tá Dõng cũng bị thương nhưng ông vẫn ở lại trên Soái đĩnh cho đến khi tàn cuộc.
Những ngày sau đó, Lực Lượng Ðặc Nhiệm 99 đụng địch liên tục. Bắc quân vẫn không tiến được bước nào và cũng không gây thiệt hại nào đáng kể cho Lực Lượng nên chúng đổi chiến thuật, tạm ngưng giao chiến trên bờ. Ðêm đêm, Bắc quân tung từng đợt người Nhái, lợi dụng lúc tối trời, tấn công các giang đĩnh nhưng với sự phòng thủ chặc chẻ và đôi khi người Nhái ta phải cận chiến bằng dao găm. Người Nhái địch đã bị hạ sát nhiều.
Ngày 23 tháng 4, trong tuyệt vọng, Bắc quân tung ra một cuộc tấn công “Thí chốt bắt xe” cuối cùng. Cấp chỉ huy của Bắc quân bắt đầu xài sinh mạng binh lính dưới quyền như xài bạc giả. Họ trưng dụng tất cả ghe thuyền của dân, chất đầy lính, ào ạt nhào ra tấn công, tính dùng chiến thuật “biển thuyền” để tràn ngập và triệt hạ LLÐN 99. Nhưng họ đã lầm, các chiến đĩnh đã hờm sẳn, phản pháo bằng tất cả các súng cơ hửu. Xác người lả tả. Ghe thuyền, chiếc thì lật úp, chiếc thì không người lái chạy ngổn ngang trên sông. Nhưng chết lớp này, lớp khác vẫn tiếp tục xông ra, nhiều như lá tre trong mùa bão lụt. Súng lớn, súng nhỏ của lực lượng bắn không xuể. Ð/Tá Dõng ra lệnh cho 2 chiếc Zippo, súng phóng hỏa đã nạp đầy xăng đặc, 4 pháo đĩnh hộ tống, ủi thẳng vào vị trí địch và phun lửa. Lưởi lửa phun ra dài cả trăm thước. Trong nháy mắt tất cả ghe thuyền địch đều bốc cháy, cả một vùng cây xanh gần bờ từ gốc tới ngọn cũng cháy rực, gãy đổ, lửa bốc cao, khét lẹt. Từng lớp địch quân ở sát bờ sông ngã như sung rụng, dày đặc cả mặt nước. Lính trên bờ vẫn đầy nghẹt, kêu thét, chạy tán loạn. Phòng tuyến địch vỡ. Cuộc tấn công tự sát thất bại. Bắc quân đã nướng bao nhiêu quân vào trận này. Ðó là điều bí mật, chỉ có họ mới biết.

You May Also Like