Góc Nhìn Thời Sự: Kinh Tế Tăng Trưởng Vượt Bực Nhưng Người Dân Lại Nghèo Đi!

Thưa quí thính giả, Nhà cầm quyền CSVN có một căn bệnh cố hữu: mọi thành tích đều được đo bằng con số tăng trưởng, còn đời sống thật của người dân lại bị bỏ quên phía sau những bản phúc trình với những con số đày hoa mỹ!. 

Trong chuyên mục GÓC NHÌN THỜI SỰ hôm nay, kính mời quý thính giả theo dõi bài viết của ĐỖ HOÀNG LAN, thành viên Ban Biên Tập đài ĐLSN, tựa đề “Kinh Tế Tăng Trưởng Vượt Bực Nhưng Người Dân Lại Nghèo Đi!”, qua sự trình bày của Miên Dương.

      GNTS-DLSN07102026

Trong nhiều năm qua, mỗi khi nói đến tình hình kinh tế Việt Nam, nhà cầm quyền CSVN vẫn ưa đưa ra những con số lạc quan. Tổng sản lượng quốc gia tiếp tục tăng, xuất cảng gia tăng, đầu tư ngoại quốc đổ vào, và Việt Nam được mô tả như một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất Á Châu. Những con số ấy không hẳn sai. Nhưng song song đó còn có một bức tranh khác, gần gũi hơn với đời sống hàng chục triệu người. Giá thực phẩm tăng, tiền thuê nhà tăng, điện nước tăng, xăng dầu tăng, học phí ngày một nặng, trong khi đồng lương phần lớn gia đình không tăng tương xứng. Câu hỏi đặt ra rất giản dị: nếu kinh tế tiếp tục tăng trưởng, tại sao đời sống người dân lại ngày càng chật vật hơn?

Đây không phải cảm nhận chủ quan. Theo số liệu do chính cơ quan thống kê nhà nước công bố, trong sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu thụ tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước. Đáng lưu ý hơn, những khoản chi thiết yếu lại tăng nhanh hơn mức trung bình đó rất nhiều. Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây cất tăng 6,72 phần trăm. Tiền thuê nhà tăng 6,32 phần trăm, giá điện tăng 5,54 phần trăm. Riêng nhiên liệu tăng đến 8,9 phần trăm, thực phẩm và dịch vụ ăn uống tăng 4,79 phần trăm. Những con số phần trăm khô khan ấy, khi đặt vào ngân sách một gia đình công nhân hay tiểu thương, lập tức trở thành một câu chuyện rất khác.

Hãy hình dung một gia đình trẻ tại Sài Gòn, Hà Nội hay bất cứ thành phố kỹ nghệ nào. Hai vợ chồng đi làm, lãnh một khoản lương tương đối ổn định. Trước khi dùng cho bất cứ nhu cầu nào khác, họ đã phải dành phần lớn cho tiền thuê nhà, rồi đến điện nước, xăng xe, tiền ăn, tiền học của con và vô số khoản chi bất ngờ khác. Mỗi món tăng vài phần trăm tưởng không đáng kể, nhưng khi tất cả cùng tăng, số tiền còn lại cuối tháng chẳng bao nhiêu. Một tai nạn hay một tháng thất nghiệp cũng đủ làm đảo lộn cả ngân sách gia đình. Nỗi khó khăn đó càng nặng nề đối với người lương bổng thấp: người khá giả khi giá thịt tăng vẫn có thể mua thịt, nhưng một gia đình nghèo buộc phải bớt món ăn, tiết kiệm điện, chấp nhận chỗ ở chật chội hơn. Vì thế lạm phát bao giờ cũng đánh vào người nghèo nặng hơn người giàu.

Nhà ở là một trong những biểu hiện rõ nhất của nghịch lý phát triển hiện nay. Nhiều thành phố vẫn tiếp tục mọc lên những chung cư cao cấp, những khu đô thị được quảng cáo trị giá hàng chục tỷ đồng. Nhưng đối với một công nhân, một giáo viên hay một đôi vợ chồng trẻ, giấc mơ có căn nhà riêng ngày càng xa vời. Khi giá nhà tăng nhanh hơn thu nhập nhiều năm liền, người trẻ không còn hỏi bao giờ mua được nhà, mà trước hết phải hỏi liệu có kham nổi tiền thuê nhà hay không. Một xã hội có thể xây rất nhiều nhà, mà phần lớn người trẻ vẫn không mua nổi một căn. Đó là nghịch lý cần được vạch rõ!

Ở đây cần phân biệt rõ ràng giữa tăng trưởng kinh tế và sự cải thiện đời sống thực sự của người dân. Tổng sản lượng quốc gia có thể tăng nhờ xuất cảng tăng, đầu tư ngoại quốc tăng, sản xuất kỹ nghệ tăng hay những dự án lớn được thực hiện. Nhưng con số đó tăng không có nghĩa là thành quả được phân phối đồng đều. Phần lớn lợi ích tăng trưởng lại dồn vào những doanh nghiệp lớn, những kẻ có quan hệ với đảng cầm quyền, những người sở hữu đất đai và tài sản. Trong khi đó, tiền lương người lao động tăng chậm hơn giá sinh hoạt. Vì vậy đất nước có thể giàu lên trên giấy tờ, trong lúc rất nhiều gia đình vẫn nghèo đi trong thực tế.

Chữ nghèo cũng cần hiểu rộng hơn cách nhìn quen thuộc. Một gia đình có xe gắn máy, điện thoại thông minh, tủ lạnh vẫn có thể sống rất bấp bênh. Nếu gần như toàn bộ thu nhập hằng tháng phải dồn hết cho nhu cầu thiết yếu, không có tiền dành dụm, không đủ sức chịu đựng vài tháng thất nghiệp hay một cơn bệnh nặng, đó cũng là một hình thức nghèo. Bề ngoài đời sống vật chất có vẻ khá hơn hai mươi năm trước, nhưng mức an toàn kinh tế chưa chắc đã tăng tương xứng.

Một khía cạnh ít được nói đến là khoảng cách giữa lương trên “danh nghĩa” và lương “thực tế”. Một người được tăng lương ba phần trăm trên giấy tờ, nhưng nếu chi phí thiết yếu của gia đình tăng năm hay sáu phần trăm, sức mua sắm thực sự của đồng lương đó đã giảm đi. Người ấy nhận nhiều tiền hơn, nhưng mua được ít hàng hóa hơn. Đó chính là cách một người có thể nghèo đi dù đồng lương chưa hề giảm trên sổ sách.

Đối với hàng triệu người làm việc trong khu vực “phi chính thức”, tình cảnh còn mong manh hơn nhiều. Người bán hàng rong, người chạy xe giao hàng, người buôn bán nhỏ hay làm công nhật không có mức lương cố định, cũng chẳng có gì bảo đảm thu nhập sẽ tăng theo vật giá. Khi sức mua của dân chúng suy giảm, các tiệm nhỏ lại càng khó bán hàng, tạo thành một vòng luẩn quẩn: giá tăng khiến người dân bớt chi tiêu, người buôn bán nhỏ giảm thu nhập, và họ lại càng phải thắt lưng buộc bụng thêm lên!

Hóa đơn điện là một thí dụ cụ thể cho thấy chính sách kinh tế cuối cùng luôn đi thẳng vào ngân sách từng gia đình, vì điện không phải món hàng có thể dễ dàng từ bỏ. Giá thực phẩm còn trực tiếp hơn nữa: một gia đình nghèo có thể chẳng bận tâm đến giá chứng khoán, nhưng chắc chắn nhớ rất rõ hôm nay một ký thịt hay một tô phở đã tăng thêm bao nhiêu đồng. Vì vậy, muốn đánh giá đúng mức sống người dân, không thể chỉ nhìn vào tổng sản lượng quốc gia tính theo đầu người, mà phải nhìn xem sau khi trả tiền nhà, tiền ăn, điện nước, học phí và thuốc men, một gia đình còn lại được bao nhiêu.

Thêm vào đó, giáo dục và y tế tạo thêm một áp lực khác nữa. Cha mẹ Việt Nam vốn sẵn lòng hy sinh cho việc học của con cái, nên khi kinh tế khó khăn, họ thường cắt giảm nhu cầu của chính mình trước. Nhưng học phí chỉ là một phần, còn sách vở, đồng phục, học thêm và nhiều khoản khác nữa. Y tế cũng vậy: chỉ cần trong nhà có người bệnh lâu ngày, một gia đình không dành dụm được bao nhiêu có thể biến từ đang sống tạm ổn thành mắc nợ nần.

Đằng sau câu chuyện giá cả còn ẩn chứa một vấn đề lớn hơn: cơ hội tiến thân. Người dân có thể chấp nhận khó khăn trước mắt nếu tin rằng ngày mai sẽ khá hơn. Nhưng khi giá nhà chạy nhanh hơn tiền lương và cơ hội kinh tế không được phân phối công bằng, niềm tin ấy dần dần phai nhạt. Đó là điều mà một chế độ độc quyền cai trị khó lòng khắc phục, vì không chịu trách nhiệm trước dân qua bầu cử tự do, không có báo chí độc lập giám sát, cũng không có nền tư pháp độc lập để phân xử công bằng. Khi quyền lực kinh tế và chính trị nằm gọn trong tay một đảng duy nhất, tài nguyên quốc gia rất dễ chảy về phía những kẻ có “quan hệ” với guồng máy cầm quyền, thay vì đến tay người dân đóng thuế và lao động.

Chính vì vậy, vấn đề không thể giải quyết chỉ bằng những đợt tăng lương tối thiểu. Lương tăng mà giá nhà, giá điện, giá thực phẩm cũng tăng theo thì người lao động chẳng tiến được bao xa. Một chính sách thực sự hướng về dân sinh phải đồng thời tạo việc làm có năng suất và tiền lương cao hơn, kiểm soát nguyên nhân gây tăng giá, mở rộng nhà ở vừa túi tiền, cải thiện y tế và giáo dục. 

Nhưng những định chế cần thiết để làm được điều đó, một nền hành chánh minh bạch, một cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu, một xã hội dân sự được tự do hoạt động, lại chính là những gì CSVN luôn tìm cách ngăn chặn. Đảng cầm quyền lo sợ rằng buông lỏng những định chế ấy sẽ làm lung lay chính vị trí độc quyền của mình!

Quan trọng hơn nữa là cách nhà cầm quyền tự đánh giá thành công. Một chính quyền không nên chỉ tự hào tổng sản lượng quốc gia năm nay tăng bao nhiêu phần trăm. Cần phải hỏi thêm: tiền lương thực tế của người lao động tăng hay giảm? Người trẻ phải làm việc bao nhiêu năm mới mua nổi một căn nhà? Con cái nhà nghèo có thật sự có cơ hội tiến thân ngang với con cái nhà giàu hay không? Đó mới là những thước đo phản ảnh chính xác đến phẩm chất thật sự của một nền kinh tế, chứ không phải những con số được tô vẽ để phục vụ thành tích của đảng cầm quyền.

Nhìn sang những xã hội có định chế dân chủ vững vàng, nơi báo chí tự do có thể phanh phui sai lầm chính sách và nơi người dân có thể thay đổi người lãnh đạo qua lá phiếu, người ta thấy rõ một điều. Đó là tăng trưởng kinh tế chỉ thật sự có ý nghĩa khi đi kèm những định chế buộc chính quyền trả lời trước dân. Thiếu vắng những định chế đó, tăng trưởng tại Việt Nam vẫn có thể tiếp diễn nhiều năm nữa, nhưng khoảng cách giàu nghèo sẽ càng lúc càng sâu đậm!

Việt Nam đã thay đổi rất nhiều trong vài chục năm qua, và không thể phủ nhận đời sống vật chất một thành phần dân chúng đã khá hơn thời kỳ nghèo đói trước đây. Nhưng chính vì đất nước đã phát triển, tiêu chuẩn đánh giá cũng phải cao hơn. Người dân hôm nay cần một công việc cho phép sống đàng hoàng, một căn nhà trong tầm tay, một nền giáo dục không biến việc nuôi con thành gánh nặng, và một nền y tế không khiến gia đình khiếp sợ mỗi khi có người đau bệnh. Đó là những điều mà một chế độ đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của dân không thể nào mang lại được/.

 


 

You May Also Like