Danh nhân nước Việt: Chí sĩ Phan Bội Châu

Kính thưa quý thính giả,

Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm VN, giới trí thức đã tham gia kháng chiến giành lại độc lập cho nước nhà. Trong số đó có một người mới 17 tuổi đã viết bài hịch “Bình Tây Thu Bắc”, lập đội “”Sĩ Tử Cần Vương” và muốn thành lập nước Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam. Nhưng chưa kịp thực hiện thì bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải và bị giải về nước với án tù chung thân.

Trong tiết mục “Danh nhân nước Việt” tuần này, chúng tôi gửi đến quý thính giả bài “Chí sĩ Phan Bội Châu” của Việt Thái qua giọng đọc của Minh Nguyệt để chấm dứt chương trình phát thanh tối hôm nay.

Chí sĩ Phan Bội Châu

Việt Thái

Cụ Phan Bội Châu tên thật là Phan Văn San, bút hiệu Sào Nam, sinh ngày 26/12/1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha là ông Phan Văn Phổ, mẹ là bà Nguyễn Thị Nhàn.

Cụ nổi tiếng thông minh từ nhỏ, 6 tuổi đã học thuộc cuốn Tam Tự Kinh trong 3 ngày. Năm 7 tuổi thông hiểu sách Luận Ngữ và năm 13 tuổi đỗ đầu kỳ thi Huyện.

Năm 17 tuổi, Cụ viết bài hịch “Bình Tây Thu Bắc” để hưởng ứng việc khởi nghĩa chống Pháp.

Năm 19 tuổi, Cụ cùng người bạn là Trần Văn Lương lập đội “Sĩ Tử Cần Vương” quy tụ hơn 60 nghĩa sĩ, nhưng bị tan rã vì quân Pháp đàn áp.

Năm 1900, Cụ đậu Giải nguyên khoa thi Hương tại Nghệ An. Sau đó, Cụ bôn ba khắp nước để kết giao với Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền và các chí sĩ.

Năm 1904, Cụ cùng Nguyễn Hàm và khoảng 20 nhân sĩ thành lập Duy Tân HộiQuảng Nam để chống Pháp, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để được bầu làm Hội trưởng.

Năm 1905, Cụ cùng Đặng Tử KínhTăng Bạt Hổ sang Trung Hoa và Nhật Bản, để cầu viện giúp đánh đuổi quân Pháp. Tại Nhật, Cụ gặp Lương Khải Siêu và được khuyên nên dùng thơ văn để thức tỉnh lòng yêu nước của người Việt nên Cụ cổ động thanh niên Việt ra nước ngoài du học để cứu nước.

Tháng 8 năm 1905 tại Hà Tĩnh, Cụ họp Duy Tân Hội, đề ra các kế hoạch:

-Đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ra nước ngoài để vận động ngoại giao.

-Lập các hội Sĩ, Nông, Công, Thương để tập hợp dân chúng và tìm tài chánh hoạt động.

-Chọn các thanh niên thông minh hiếu học, chịu được gian khổ, đưa đi du học ở nước ngoài.

Trong 3 nhiệm vụ trên, thì nhiệm vụ thứ 3 rất quan trọng, phải bí mật, nên Duy Tân Hội giao cho Cụ và Nguyễn Hàm định liệu. Từ đó, phong trào Đông Du được nhiều người dân 3 miền tham gia và ủng hộ.

Năm 1906, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để qua Nhật học trường Chấn Võ.

Đến năm 1908, số người Việt sang Nhật du học lên đến khoảng 200 người, sinh hoạt trong một tổ chức có tên là “Cống Hiến Hội”. Nhưng khi Pháp và Nhật ký hiệp ước, chính phủ Nhật liền trục xuất các du học sinh này ra khỏi Nhật.

Tháng 3 năm 1909, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và Cụ bị trục xuất nên phong trào Đông Du tan rã.

Trong thời gian này, mọi hoạt động quyên góp tài chánh và chuẩn bị vũ trang bạo động của Duy Tân Hội ở nhiều nơi trong nước đều bị thực dân Pháp triệt hạ. Những người sống sót phải vượt biên sang Trung Hoa, Thái Lan, Lào để lánh nạn.

Cuối năm 1910, Cụ chuyển 50 thanh niên ở Quảng Đông về xây dựng căn cứ tại Thái Lan.

Đến tháng 5 năm 1912, trong Đại Hội tại nhà tướng Lưu Vĩnh PhúcQuảng Đông (Trung Hoa), đại biểu khắp 3 miền quyết định giải tán Duy Tân Hội và thành lập Việt Nam Quang Phục Hội, thay đổi chủ nghĩa Quân chủ sang Dân chủ để đánh đuổi quân Pháp, thành lập nước Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam, ngõ hầu đáp ứng tình hình trên chính trường Quốc Tế.

Các cuộc tấn công bằng chất nổ của Duy Tân Hội sau đó, khiến nhà cầm quyền Pháp tăng cường đàn áp, làm cho nhiều người bị bắt và bị giết. Cụ và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để bị kết án tử hình vắng mặt.

Năm 1913, Pháp “mặc cả” với Tổng đốc Quảng Đông là Long Tế Quang để bắt Cụ và các yếu nhân của Việt Nam Quang Phục Hội. Cụ bị bắt, nhưng nhờ Nguyễn Thượng HiềnBắc Kinh vận động nên Long Tế Quang không giao nạp Cụ cho Pháp, mà chỉ giam Cụ tại nhà tù Quảng Đông.

Theo đường lối Quốc Dân Đảng của Tôn Trung Sơn, Cụ định cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội thành Đảng Quốc Dân Việt Nam. Nhưng chưa kịp thực hiện thì Cụ bị Pháp bắt cóc tại Thượng Hải vào ngày 30/6/1925 và bị giải về nước với án tù chung thân.

Nhờ phong trào đấu tranh của dân chúng và sự can thiệp của Toàn quyền Pháp, Cụ bị đưa về quản thúc tại gia ở Bến Ngự (Huế). Trong 15 năm cuối đời, Cụ vẫn giữ tròn phẩm cách và tiết tháo, không ngừng động viên tinh thần yêu nước của thanh thiếu niên Việt bằng thơ văn.

Cụ qua đời ngày 29/12/1940 tại Huế. Thời gian sau, một trường học ở Nghệ An, một phố lớn tại Hà Nội và nhiều con đường khắp các tỉnh thành được đặt tên Phan Bội Châu, để tưởng nhớ một người yêu nước, suốt đời tận tụy vì Quốc gia Dân tộc.

* * *

Có thể nói, ít có người Việt nào không biết đến cái tên Phan Bội Châu, một chí sĩ trọn đời cống hiến tâm huyết cho cuộc kháng chiến chống Pháp để dựng lại nền độc lập tự chủ cho nước nhà. Do vận nước điêu linh khiến Cụ không đạt thành tâm nguyện, nhưng điều an ủi là tên tuổi của Cụ đã đi vào lịch sử và trong lòng người Việt mãi mãi về sau!

 

You May Also Like